0937542233
7:00-22:00
Xem nhà thuốc
7:00

Một số thuốc ảnh hưởng đến bài tiết sữa mẹ

BÀI VIẾT LIÊN QUAN

Đau cơ xơ hóa

Đau cơ xơ hóa: Nguyên nhân, dấu hiệu và biện pháp điều trị

bạch cầu cấp dòng tủy

Bệnh bạch cầu mãn tính dòng tủy – Ung thư máu

viem gan hbv

Viêm gan HBV: nguyên nhân, triệu chứng, chẩn đoán và cách phòng ngừa

dieu tri dong nhiem HIV va viem gan B va C

Đồng nhiễm viêm gan B và C ở bệnh nhân HIV/AIDS

Bệnh bạch cầu cấp dòng tủy (AML) – Huyết học và ung thư học

08/07/2022
Tham vấn y khoa: Nhà Thuốc An Tâm Dược sĩ

Bệnh bạch cầu dòng tủy cấp tính (AML) là bệnh ung thư máu và tế bào tủy xương. Bởi vì bệnh được tạo ra trong tủy xương, nó ảnh hưởng đến một nhóm  tế bào bạch cầu được gọi là tế bào tủy xương. Thuật ngữ “cấp tính” có nghĩa là bệnh tiến triển và tiến triển nhanh chóng và cần phải điều trị ngay lập tức. Vậy nguyên nhân, triệu chứng cũng như phương pháp điều trị bệnh bạch cầu dòng tủy (AML) này như thế nào? Hãy tìm hiểu những thông tin này cùng nhà thuốc An Tâm ngay sau đây.

bạch cầu cấp dòng tủy

I. Bạch cầu cấp dòng tủy là gì?

Tế bào tủy xương và các tế bào máu khác thường được sản xuất trong tủy xương (phần bên trong mềm của tủy xương) theo một cách thức vận hành cẩn thận. Một số người bị AML có quá trình này bất thường. Một số lượng lớn các tế bào tủy xương bất thường và chưa trưởng thành được tạo ra, làm dày khoang tủy xươnggiải phóng nó vào máu. trạng thái chưa trưởng thành, các tế bào này không thể thực hiện các chức năng bình thường của chúng.

bạch cầu cấp dòng tủy

>> Bệnh bạch cầu mãn tính dòng tủy khác với bạch cầu cấp dòng tủy như thế nào?

II. Nguyên nhân bệnh bạch cầu cấp dòng tủy

Bệnh bạch cầu dòng tủy cấp tính là do tổn thương DNA của các tế bào trong quá trình phát triển của tủy xương. Tại thời điểm này, quá trình sản xuất tế bào máu không còn bình thường và tủy xương tạo ra các tế bào chưa trưởng thành, chúng phát triển thành các tế bào ác tính, còn được gọi là “tế bào máu non” (các vụ nổ tủy xương). Những tế bào bất thường này  sản sinh quá mức, tích tụ và lấn át hoạt động bình thường của các tế bào máu khỏe mạnh.

Hiện tại vẫn chưa biết điều gì làm đột biến DNAgây ra AML. Tuy nhiên, theo các bác sĩ, một số yếu tố như bức xạ, tiếp xúc với một số hóa chất và một số tác nhân hóa trị liệu là những yếu tố làm tăng nguy cơ mắc bệnh bạch cầu cấp dòng tủy.

bạch cầu cấp dòng tủy

III. Các triệu chứng của bệnh bạch cầu cấp dòng tủy (AML)

Các dấu hiệu ban đầu của bệnh bạch cầu  dòng tủy cấp tính có thể giống với các dấu hiệu của bệnh cúm các bệnh thông thường khác. Ngoài ra, các dấu hiệu và triệu chứng phụ thuộc vào loại tế bào máu bị ảnh hưởng.  Các dấu hiệu và triệu chứng của AML là: phát sốt; Đau nhức xương; Mệt mỏi, khó thở; Da xanh xao; Thở gấp, nhanh khi vận động; Hoa mắt, chóng mặt; Cơ thể dễ bị nhiễm trùng; Dễ tích tụ máu bầm; Chảy máu bất thường như chảy máu cam thường xuyên và chảy máu  nướu.

bạch cầu cấp dòng tủy

IV. Các biến chứng của bệnh bạch cầu cấp dòng tủy (AML)

Các biến chứng từ các tình trạng bệnh lý trước đó hoặc liên quan thường gặp ở bệnh nhân mắc bệnh bạch cầu cấp tính (AML). Các biến chứng này cần được chẩn đoán nhanh chóng để có thể thực hiện các biện pháp can thiệp phù hợp. Các biến chứng thường gặp như: thiếu máu, nhiễm trùng và chảy máu. Rối loạn đông máu liên quan đến hệ thống thần kinh trung ương và viêm trung ương, đông máu nội mạch lan rộng, rối loạn chuyển hóa (hội chứng ly giải u: tăng phosphat máu, tăng kali huyết, tăng acid uric trong máu hoặc các biến chứng khác của suy thận) cũng có thể đe dọa tính mạngcần chẩn đoán và điều trị kịp thời.

V. Yếu tố nguy cơ

bạch cầu cấp dòng tủy

Các yếu tố sau có thể làm tăng nguy cơ mắc  AML: 

– Tuổi tác: Nguy cơ mắc bệnh bạch cầu cấp tính tăng lên theo độ tuổi và phổ biến nhất ở những người trên 65 tuổi.

– Giới tính: Đàn ông có nhiều khả năng phát triển  AML hơn phụ nữ.

Điều trị ung thư: Những người được điều trị bằng một số loại hóa trị và xạ trị có thể có nguy cơ mắc AML tủy sống cao hơn những người không bị ung thư.

– Tiếp xúc với bức xạ: Người tiếp xúc với mức độ tia bức xạ rất cao, chẳng hạn như những người sống sót sau một vụ tai nạn  hạt nhân, có nguy cơ mắc AML cao hơn.

– Tiếp xúc với các hóa chất nguy hiểm: Tiếp xúc với một số hóa chất, chẳng hạn như benzen, có liên quan đến việc tăng nguy cơ  bạch cầu  tủy sống AML.

– Hút  thuốc lá: Thuốc lá có chứa benzen và  nhiều  chất gây ung thư, vì vậy hút thuốc lá làm tăng nguy cơ  mắc AML và các bệnh ung thư khác.

– Các  rối loạn máu khác: Những người mắc các chứng rối loạn máu khác như suy tủy xương, xơ tủy  (myelofibrosis), tăng hồng cầu huyết khối đều có nguy cơ mắc bệnh Aml.

– Rối loạn di truyền: Chẳng hạn như hội chứng Down cũng có liên quan đến việc tăng nguy cơ mắc AML.

Tuy nhiên, mặc dù nhiều người ở mức độ tủy xương nhưng không có yếu tố nguy cơ. Điều ngược lại cũng đúng. Bất chấp những yếu tố nguy cơ này, chúng không gây ung thư.

Nếu bạnbất kỳ triệu chứng bất thường nào, hãy tham khảo ý kiến ​​chuyên gia để đánh giá.

VI. Cách phòng ngừa bệnh bạch cầu cấp dòng tủy (AML)

Hiện nay, không có thuốc đặc trị cho bệnh bạch cầu cấp dòng tủy.

– Tránh tiếp xúc với hóa chất, tia bức xạ, thuốc lá.

Những người có nguy cơ mắc bệnh, chẳng hạn như những người có  bất thường  di truyền (ví dụ: thể tam nhiễm 21; hội chứng Bloom; thiếu máu Fanconi; đột biến gia đình của CEBPA, DDX41, RUNX1) hoặc rối loạn máu của trước khi biểu hiện như hội chứng loạn sản tủy, bệnh bạch cầu  dòng tủy, bệnh kịch phát về đêm huyết sắc tố niệu, thiếu máu bất sản cần được phát hiện, điều trị và theo dõi định kỳ bệnh bạch cầu cấp.

– Khi phát hiện các dấu hiệu của bệnh nên đi khám kịp thời, tuân thủ điều trị, tái khám định kỳ để tránh những biến chứng của bệnh cũng như hạn chế những biến chứng do quá trình điều trị gây ra.

VII. Chẩn đoán bệnh bạch cầu cấp dòng tủy (AML) như thế nào?

bạch cầu cấp dòng tủy

AML nên được nghi ngờ ở bất kỳ cá nhân nào công thức máu ngoại vi cho thấy các tế bào chưa trưởng thành (tế bào dòng tủy chưa trưởng thành), tăng bạch cầu không giải thích được (có hoặc không có các triệu chứng liên quan, chẳng hạn như chảy máu, nhiễm trùng, suy nhược) hoặc các trường hợp cấp cứu chuyển hóa/ung thư không rõ nguyên nhân (ví dụ: ly giải khối u, hội chứng tăng bạch cầu). Chẩn đoán AML dựa trên sự xâm nhập vào tủy xương hoặc máu ngoại vi của 20% tế bào bạch cầu trẻ với các đặc điểm  hình thái, hóa tế bào, kiểu hình miễn dịch và di truyền tế bào/phân tử. Trong một số trường hợp, ngay cả khi thâm nhiễm  tủy xương hoặc máu ngoại vi <20%, AML có thể được chẩn đoán bằng sự hiện diện của sarcoma dòng tủy hoặc các bất thường về nhiễm sắc thể hoặc phân tử đặc hiệu của cơ thể.

Chẩn đoán AML cần 2 yếu tố:

– Xâm nhập tủy xương: Những dạng blast phải chiếm ít nhất từ 20 phần trăm tổng số tế bào của dịch hút tủy xương (từ số lượng 500 tế bào biệt hóa) hoặc máu ngoại vi. Trong một số trường hợp, ngay cả khi sự xâm nhập vào tủy xương hoặc máu ngoại vi dưới 20%, AML có thể được chẩn đoán bằng sự hiện diện của sarcoma dòng tủy hoặc một số bất thường về nhiễm sắc thể hoặc phân tử cụ thể như những người có t (8; 21), inv (16) hoặc t (15; 17).

– Tế bào bệnh bạch cầu phải có nguồn gốc từ tủy xương, bằng chứng là sự hiện diện của  que Auer, myeloperoxidase dương tính, hoặc sự hiện diện của đủ các dấu hiệu  tủy xương / bạch cầu đơn nhân được xác định bằng các xét nghiệm kiểu miễn dịch cụ thể. AML được phân loại theo hệ thống phân loại của Tổ chức Y tế Thế giới (WHO) dựa trên hình thái, kiểu hình miễn dịch, karyotype, đặc điểm phân tử và đặc điểm lâm sàng.

– AML với các bất thường di truyền tái phát.

– Không có tiền sử AML, điều trị độc tế bào với các đặc điểm liên quan đến hội chứng loạn sản tủy. Ung thư dòng tủy do điều trị (còn được gọi là AML do điều trị).

– AML Not Other Specified (NOS) không đáp ứng các tiêu chí trong các loại trên.

– Sarcoma tủy.

– Tăng trưởng tủy xương liên quan đến hội chứng Down.

Các xét nghiệm trong phòng thí nghiệm nên bao gồm công thức (CBC), đông máu và huyết thanh virus. Kiểm tra tủy xương nên bao gồm hình thái học, tế bào học, karyotype, và phân tích phân tử để chẩn đoán và phân loại AML. Đầu tiên, nên chụp X-quang phổi, điện tâm đồ, siêu âm tim hoặc quét MUGA để đánh giá phân suất tống máu. 

Xét nghiệm kháng nguyên bạch cầu người (HLA) nên được xem xét ở một số bệnh nhân đã quyết định cấy ghép tế bào tạo máu.

VIII. AML được điều trị như thế nào?

bạch cầu cấp dòng tủy

Nhiều loại thuốc hóa trị liệu có hiệu quả chống lại AML. Mục tiêu của điều trị là tiêu diệt các tế bào ác tính mà không làm tổn hại đến các tế bào tủy xương khỏe mạnh còn lại. Những thay đổi di truyền trong các tế bào tủy xương bất thường rất đa dạng và ảnh hưởng đến  đáp ứng với điều trị. Việc điều trị của bạn có thể cần được điều chỉnh dựa trên phân tích cẩn thận về những thay đổi di truyền của bạn. Người ta thường tin rằng những thay đổi di truyền này không phải do di truyền từ các thế hệ trước, mà là do sự phát triển tình cờ. Điều trị AML phụ thuộc vào loại phụ cụ thể của AML. Ví dụ, bệnh nhân mắc một loại AML cụ thể, còn được gọi là “bệnh bạch cầu cấp tính nguyên bào nuôi”, có thể được điều trị bằng các loại thuốc khác. Việc điều trị cũng phụ thuộc vào tuổi của bạn và các bệnh  đi kèm khác. Điều trị AML thường được chia thành hai giai đoạn: tấn công tạo sự thoái lui và điều trị sau thoái lui.

>> Bosulif 100mg – Thuốc điều trị chống lại AML hiệu quả hiện nay.

1. Tấn công tạo sự thoái lui trong bạch cầu cấp dòng tủy

Giai đoạn điều trị đầu tiên được gọi là tấn công tạo sự thoái lui hoặc điều trị tấn công. Điều trị tấn công (với các tác nhân hóa trị liệu) được đưa ra với mục đích làm giảm số lượng tế bào bạch cầu bệnh lý xuống mức không thể phát hiện được, do đó khôi phục sản xuất tế bào máu bình thường.

Hóa trị  là việc sử dụng thuốc để ngăn chặn hoặc làm chậm sự phát triển và tồn tại của tế bào ung thư. Hóa trị nhắm vào các tế bào đang phát triển và ngăn chặn khả năng phân chia và tăng sinh của chúng. Hầu hết các tế bào trưởng thành bình thường không còn phát triển tích cực và không bị ảnh hưởng bởi hóa trị liệu như các tế bào ung thư.

Tuy nhiên, các tế bào bình thường trong xương tủy, tế bào tóc và lớp bên trong niêm mạc của đường tiêu hóa, nơi tủy xương (nơi bắt nguồn của các tế bào máu) là các tế bào đang phát triển. Tác động của hóa trị liệu lên các tế bào này và các mô bình thường khác gây ra các tác dụng phụ như rụng tóc, nôn mửa, thiếu máu (giảm số lượng hồng cầu), và nguy cơ nhiễm trùng (giảm số lượng hồng cầu) và chảy máu (giảm số lượng tiểu cầu).

Hóa trị  được thực hiện trong vài ngày, sau đó giảm bạch cầu kéo dài trong khoảng 3 tuần. Hầu hết các phác đồ hóa trị thường được diễn ra trong thời gian nằm viện. Điều này là do khi hóa trị cần được chăm sóc hỗ trợ bằng kháng sinh tiêm tĩnh mạch và thường phải truyền máu.

Thoái lui hoàn toàn Mục tiêu đầu tiên của điều trị AML là đạt được sự thoái lui hoàn toàn. Thoái lui hoàn toàn có nghĩa máu và tủy xương không còn tế bào bạch cầu ác tính, tủy xương hoạt động bình thườngmột số lượng tế bào máu khỏe mạnh bình thường đã trở lại dòng máu. Sinh thiết tủy xương và xét nghiệm máu được yêu cầu để xác nhận điều này.

2. Điều trị sau thoái lui của AML

Liệu pháp điều trị này nhằm mục đích tiêu diệt các tế bào bạch cầu ác tính còn tồn tại trong tủy xương hoặc máu mà ở cấp độ vi thể không thể phát hiện được.

hai lựa chọn điều trị cơ bản sau khi thoái lui: 

Hóa trị bổ sung, đôi khi được gọi là liệu pháp củng cố sau thoái lui. 

Cấy ghép tế bào gốc từ một người hiến tặng khỏe mạnh (cấy ghép tế bào gốc dị ghép) 

Phương pháp điều trị sau thoái lui tối nhất phụ thuộc vào nhiều yếu tố, bao gồm cả việc điều trị AML của một người tiến triển hoặc khó chữa như thế nào. Bệnh nhân mắc AML có thể được phân loại là có nguy cơ dựa trên xét nghiệm di truyền của các tế bào bạch cầu ác tính. 

Cấy ghép tế bào gốc không được khuyến khích cho tất cả bệnh nhân AML. Bởi các biến chứng nghiêm trọng, và đôi khi thậm chí tử vong, phổ biến hơn nhiều sau khi cấy ghép tế bào gốc so với sau khi hóa trị. một số nhóm  bệnh nhân nhất định, không có lợi thếràng của việc cấy ghép tế bào gốc so với hóa trị. Tuy nhiên, cấy ghép tế bào gốc có thể phù hợp với một số người, chẳng hạn như bệnh nhân mắc bệnh AML  tiến triển nặng trở lại sau một thời gian thuyên giảm và không thuyên giảm hoàn toàn sau lần điều trị  ban đầu.

3. Điều trị AML ở người lớn tuổi

Nhìn chung, bệnh nhân trên 60 tuổi không đáp ứng tốt với điều trị. Bởi vì một số lý do sau: 

– Các khối u ác tính khó điều trị (kháng hóa chất) có thể phổ biến hơn ở người lớn tuổi. Điều này có nghĩa là AML ở người lớn tuổi có xu hướng  kháng nhiều hơn với các loại thuốc hóa trị liệu tiêu chuẩn.

– Ở người cao tuổi, sự hiện diện của các bệnh đi kèm khác như tiểu đường, bệnh thận, phổi hoặc tim mạch có liên quan đến tăng nguy cơ biến chứng liên quan đến điều trị.

– Các quyết định điều trị AML cho người cao tuổi được đưa ra tốt nhất theo từng trường hợp cụ thể, nên sử dụng các phác đồ ít tác dụng hơn. Nếu những rủi ro tiềm ẩn của hóa trị liệu lớn hơn lợi ích,  nên cung cấp dịch vụ chăm sóc giảm nhẹ.

Nói chung, chăm sóc giảm nhẹ bao gồm truyền máu cho những trường hợp thiếu máu hoặc chảy máu và dùng thuốc kháng sinh khi cần thiết để điều trị nhiễm trùng.

Trên đây là toàn bộ thông tin về bệnh bạch cầu cấp dòng tủy (AML) và các phương pháp điều trị loại bệnh này. Nhà thuốc An Tâm hy vọng rằng bài viết này sẽ giúp bạn hiểu hơn về nguyên nhân, các triệu chứng của bệnh này cũng như các liệu trình đang được áp dụng để điều trị cho bệnh nhân.

Tác giả:
Nhà Thuốc An Tâm Dược sĩ

Chuyên khoa: Nhà thuốc An Tâm uy tín chuyên nghiệp Tp HCM Nhà thuốc An Tâm là chuỗi nhà thuốc uy tín, chuyên nghiệp. An Tâm Pharmacy với 5 tốt: Thuốc Tốt, Giá Tốt, Phục Vụ Tốt, Tư Vấn Tốt, Chăm sóc Tốt.

Cập nhật: 01 ngày trước

08/07/2022
0 0 đánh giá
Article Rating
Theo dõi
Thông báo của
guest
0 Comments
Phản hồi nội tuyến
Xem tất cả bình luận

Thông tin liên quan

TƯ VẤN MUA HÀNG

KẾT NỐI VỚI CHÚNG TÔI

© 2018. Hệ thống chuỗi Nhà Thuốc An Tâm.

Địa chỉ 1: 05 Quang Trung, Phường Hiệp Phú, Tp Thủ Đức (Quận 9), TP.Hồ Chí Minh.

Địa chỉ 2: 42 Nguyễn Huy Lượng, Phường 14, Quận Bình Thạnh, TP.Hồ Chí Minh.

Điện thoại: 0937542233.

Email: lienhe@nhathuocantam.org

Lưu ý: Nội dung trên Nhà Thuốc An Tâm chỉ mang tính chất tham khảo. Hãy tham khảo ý kiến của bác sỹ không tự ý sử dụng thuốc khi không có chỉ định của bác sỹ.

0
Rất thích suy nghĩ của bạn, hãy bình luận.x